Lăng vua Đồng Khánh (Tư Lăng)

Lăng vua Đồng Khánh có lịch sử xây dựng đầy trắc trở. Sau khi vua Đồng Khánh lên ngôi, ngài thấy lăng của cha mình ở núi Cư Sĩ chưa có điện thờ nên đã sai Bộ Công dựng điện Truy Tư gần đó để rước bài vị của Kiên Thái Vương (Nguyễn Phúc Hồng Cai) về thờ trong điện, đồng thời xây dựng hoàn chỉnh lăng mộ cho cha mình. Tuy nhiên trong quá trình đang thi công dang dở thì vua đột ngột băng hà. Vua Thành Thái kế vị trong hoàn cảnh lịch sử, kinh tế khó khăn và suy kiệt nên không đủ khả năng để xây cất lăng mộ quy củ cho vị vua tiền triều, nhà vua đành lấy điện Truy Tư đổi làm điện Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh. Thi hài vua Đồng Khánh cũng được an táng đơn giản trên quả đồi có tên là Hộ Thuận Sơn, cách điện Ngưng Hy 30m về phía Tây. Toàn bộ khu lăng tẩm được gọi là Tư Lăng.

Lăng vua Đồng Khánh
Lăng vua Đồng Khánh

Tiểu sử vua Đồng Khánh

Vua Đồng Khánh là vị Hoàng để thứ 9 của triều Nguyễn, nhà vua tên là Nguyễn Phúc Ưng Đường, tên húy là Nguyễn Phúc Biện; sinh ngày 12 tháng Giêng năm Giáp Tý (12/12/1864); là con trai cả của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai (1845 – 1876) và bà Thuần Nghị Kiên Thái vương phi Bùi Thị Thanh. Mặc dù ông Nguyễn Phúc Hồng Cai không làm vua, nhưng là bậc sinh thành của ba vị vua: Kiến Phúc (1883 – 1884), Hàm Nghi (1884 – 1885) và Đồng Khánh (1885 – 1888).

Năm 1865, lúc mới hai tuổi Ưng Đường được vua Tự Đức nhận làm con nuôi, vua giao Ưng Đường cho bà Thiệu phi Nguyễn Thị Cẩm nuôi dạy. Năm 1883 ngài được phong là Kiên Giang Quận Công. Ưng Đường là anh cả nhưng lại được đưa lên ngai vàng sau cùng. Bấy giờ, khi vua Hiệp Hòa băng hà (1883), Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lập hoàng tử Ưng Đăng (con nuôi vua Tự Đức và là em thứ hai của Ưng Đường) lên làm vua, lấy niên hiệu Kiến Phúc. Nhưng ở ngôi được 8 tháng thì Kiến Phúc băng hà. Em trai là Ưng Lịch được kế vị, đặt niên hiệu Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi trị vì được một năm thì Kinh đô thất thủ (05/07/1885), sau đó vua phải rời ngai vàng theo Tôn Thất Thuyết ra Tân Sở, phát chiếu Cần Vương chống Pháp. Triều thần và chính phủ bảo hộ đưa anh trai vua Hàm Nghi là Ưng Đường lên ngai vàng đang còn bỏ trống, lấy niên hiệu là Đồng Khánh. Vì vậy trong dân gian truyền rằng:

“Một nhà sinh đặng ba vua

 Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài”

(Vua còn là vua Đồng Khánh đang tại vị, vua mất là vua Kiến Phúc, vua thua chạy dài là vua Hàm Nghi).

Vua Đồng Khánh tính tình hiền lành, thích đọc sách, xem tuồng và thích nghiên cứu kinh Dịch, đặc biệt là nhà vua rất tín mộ đạo thờ Mẫu. Tương truyền khi còn là hoàng tử, muốn biết thời điểm nào lên ngôi và làm vua được bao lâu, nhà vua đã khẩn cầu nữ thần Thiên Y A Na thờ ở Điện Hòn Chén. Điều đó sau đã linh ứng, nhà vua được toại nguyện. Vì vậy sau khi lên ngôi, vua Đồng Khánh đã cho xây cất lại ngôi điện khang trang hơn và đặt tên là Huệ Nam Điện. Nhà vua thường lên Điện Hòn Chén cầu bái, lệnh cho Bộ Lễ mỗi năm hai kỳ mùa Xuân và mùa Thu phải cử quan đại diện triều đình đến đây dâng đồ tế lễ, từ đó hàng năm lễ tế Thánh Mẫu được xếp vào hàng quốc lễ. Chính vì vậy, sau khi vua băng hà, bài vị của nhà vua cũng được thờ tại điện Hòn Chén.

Vua Đồng Khánh lên ngôi trong tình hình ngân khố quốc gia khánh kiệt, của cải của triều đình phần vì quân Pháp vơ vét, phần thì Tôn Thất Thuyết chở ra Quảng Trị. Tình hình chính trị – xã hội rối ren, sĩ phu trong Nam ngoài Bắc đều hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, hoàn cảnh đó được phản ánh qua câu ca:

“Ngẫm xem thế sự mà rầu

Ở giữa Đồng Khánh hai đầu Hàm Nghi”

Vua Đồng Khánh là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn thừa nhận nền bảo hộ của Pháp, tiếp xúc với nền văn minh phương Tây, mang huy chương Bắc Đẩu Bội tinh, sử dụng nhiều đồ dùng của người Pháp. Không như những vị vua tiền triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều cố tình xa lánh người Pháp, vua Đồng Khánh lại cố thắt chặt tình thân hữu, thỉnh thoảng nhà vua mời các vị quan Pháp vào hoàng cung dự yến tiệc hoặc xem hát tuồng. Một sự thay đổi lớn trong cách tiếp đón đáng nói ở đây là nhà vua cho phép phái đoàn ngoại giao Pháp đi lại bằng cửa giữa Ngọ Môn.

Về thể chất nhà vua vốn yếu đuối, cuối năm 1888 vua Đồng Khánh lâm bệnh nặng và không ăn uống được gì, thỉnh thoảng lên cơn sốt cao, người mệt mỏi, đêm nằm nhà vua thường la hét vì ác mộng. Các quan ngự y trong triều tận tình cứu chữa nhưng bất lực, thậm chí cả bác sĩ người Pháp cũng được mời đến cứu chữa nhưng cũng vô hiệu. Sau hơn nửa tháng ốm nặng vua Đồng Khánh đã băng hà giữa lúc 25 tuổi, trị vì được 3 năm (1886 – 1888).

Vua Đồng Khánh có 5 bà phi và 9 người con (6 hoàng tử và 3 công chúa). Trong đó phải kể đến 2 bà phi tần khá nổi tiếng là bà Thánh Cung và bà Tiên Cung.

Bà Hoàng quý phi Nguyễn Thị Nhàn (1870 – 1935), sau Khải Định lên ngôi thì tôn xưng là Thánh Cung Hoàng thái hậu, là con gái ông Nguyễn Hữu Độ, bà sinh được hai hoàng tử. Lăng của bà có tên Tư Minh, nằm gần lăng vua Đồng Khánh.

Bà Nghi tần Dương Thị Thục (1868 – 1944), sau vua Khải Định lên ngôi tôn xưng là Tiên Cung Hoàng thái hậu, là con gái ông Dương Quang Hướng, bà sanh được hai hoàng tử và chính là thân mẫu của vua Khải Định. Lăng của bà có tên Tư Thông, thường gọi là lăng Vạn Vạn ở làng An Cựu – Huế.

Lúc sinh thời nhà vua không ngờ đến vận mệnh vắn số của mình, nên chưa nghĩ đến việc xây dựng lăng tẩm. Như để bù đắp lại cho sự kém may mắn, lăng của vua lại được yên nghỉ giữa một nơi nồng ấm tình cảm gia đình, xung quanh là lăng mộ của bà con quyến thuộc như: lăng vua Tự Đức, lăng Kiên Thái Vương, lăng bà Từ Cung, lăng bà Thánh Cung và xa hơn là lăng bà Tá Thiên Nhân Hoàng hậu, lăng vua Thiệu Tri…

Quá trình xây dựng lăng vua Đồng Khánh

Sự ra đời của lăng vua Đồng Khánh có lịch sử đầy trắc trở. Sau khi vua Đồng Khánh lên ngôi, ngài thấy lăng của cha mình ở núi Cư Sĩ chưa có điện thờ nên đã sai Bộ Công dựng điện Truy Tư gần đó để rước bài vị của Kiên Thái Vương (Nguyễn Phúc Hồng Cai) về thờ trong điện, đồng thời xây dựng hoàn chỉnh lăng mộ cho cha mình. Tuy nhiên trong quá trình đang thi công dang dở thì vua đột ngột băng hà. Vua Thành Thái kế vị trong hoàn cảnh lịch sử, kinh tế khó khăn và suy kiệt nên không đủ khả năng để xây cất lăng mộ quy củ cho vị vua tiền triều, nhà vua đành lấy điện Truy Tư đổi làm điện Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh. Thi hài vua Đồng Khánh cũng được an táng đơn giản trên quả đồi có tên là Hộ Thuận Sơn, cách điện Ngưng Hy 30m về phía Tây. Toàn bộ khu lăng tẩm được gọi là Tư Lăng.

Khi vua Đồng Khánh băng hà, quan tài nhà vua được đưa lên quàn tại điện Ngưng Hy 20 ngày, sau đó mới đưa đến an táng tại khu lăng mộ, mặc dù các công trình kiến trúc tại khu vực này chưa được hoàn tất. Phần lớn các công trình kiến trúc mà ngày nay chúng ta thấy ở khu lăng tẩm vua Đồng Khánh đều được thực hiện dưới thời Khải Định (1916 – 1925). Sau khi lên ngôi được 3 tháng vua Khải Định sai Bộ Công lo việc tu sửa toàn bộ khu lăng cho cha mình.

Như vậy công cuộc xây dựng lăng Đồng Khánh diễn ra nhiều đợt trong thời gian dài ngót 35 năm (1888 – 1923) và qua bốn đời vua. Bắt đầu vào cuối đời vua Đồng Khánh và đến thời Khải Định mới quy mô và hoàn chỉnh. Về quy mô, lăng vua Đồng Khánh không có gì khác lạ đáng kể so với lăng của các vị vua tiền triều, ở cả hai khu vực lăng và tẩm có khoảng 20 công trình kiến trúc lớn nhỏ với mật độ tương đối mật tập. Khu vực tẩm quay về hướng Đông Nam, ngay trước mặt có đào hồ bán nguyệt để làm yếu tố “minh đường” và ngọn đồi Thiên An cách đó khoảng 3km được chọn làm “tiền án”. Khu vực mộ lại quay về hướng Đông – Đông Nam, tiền án là ngọn núi Thiên Thai.

KHU VỰC TẤM ĐIỆN

Cung Môn

Là cửa chính để đi vào khu vực tẩm điện. Cung Môn được làm theo kiểu tam quan, kết cấu 2 tầng lầu và 3 lối vào hình vòm, với bộ khung bằng gỗ lim. Phía trên cửa giữa có một bức hoành phi màu đỏ chạm nổi hình “lưỡng long triều nguyệt”. Bên hữu là dòng lạc khoản bằng chữ Hán “Thành Thái nguyên niên nhị nguyệt cát nhật tạo”, có nghĩa là làm vào ngày tốt tháng 02 năm Thành Thái thứ nhất (1889). Mái tầng trên Cung Môn lợp ngói ống men vàng, ở chính giữa gắn họa tiết bầu rượu bằng pháp lam, bốn góc đều chia ô hộc trang trí hoa lá, bát bửu bằng pháp lam.

Lăng vua Đồng Khánh
Cung Môn

Điện Ngưng Hy

Là ngôi điện chính trong khu vực tẩm điện, được làm bằng gỗ lim, xây theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc”, gồm 7 gian 2 chái, nhưng ở phía sau lại được gia tăng thêm một tòa nhà thứ ba (hậu điện), ba hệ thống tòa nhà nối với hệ thống vì kèo ghép lại với nhau theo kiểu chữ “Tam”, phía trên có hai máng xối. Điện quay mặt về hướng Đông mặt trước cửa ra vào được đóng khép bằng hệ thống cửa bảng khoa gắn kính nhiều màu rất rực rỡ theo phong cách Tây phương.

Mái điện lợp ngói Hoàng lưu ly, trên các bờ nóc, bờ quyết, cổ diêm, đầu hồi… đều được làm bằng pháp lam ngũ sắc và bằng đất nung tráng men màu với đề tài trang trí dân dã như: “Ngư Tiều Canh Mục”, “Cầm Kỳ Thi Tửu”, hoa quả, các con thú… Đặc biệt là loại hình sản phẩm đất nung tráng men này rất ít thấy trang trí trong cung điện, hay lăng tẩm của triều Nguyễn, đây là loại hình tạo tác thủ công mỹ thuật đặc sắc của địa phương

Bên trong nội thất, ở gian giữa nhà chính doanh là nơi thiết đặt bàn thờ vua Đồng Khánh và hai bà Hoàng hậu (bà Thánh Cung và bà Tiên Cung). Bàn thờ được làm bằng gỗ có khảm cẩn, trên bàn thờ có đặt cây san hô trắng đặt trong lồng gương. Các ô hộc trang trí phong phú với các đề tài Tùng – Lộc, Mai – Điểu, Liên – Áp, Trúc – Tước… bằng sơn mài ghép khảm và chạm nổi. Nổi bật nhất là 24 bức tranh sơn thếp, được lấy từ điển tích “Nhị thập tứ hiếu” của người xưa, mỗi bức tranh một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán diễn tả các câu chuyện hiếu thảo như: Ngu Thuấn – Hán Văn Đế – Tăng Tử – Mẫn Tử – Lão Lai Tử – Đồng Vĩnh – Quách Cự – Khương Thi – Đinh Lan… Ngoài ra còn có các bức tranh chạm thếp về bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông rất tinh xảo. Điện Ngưng Hy là nơi còn lưu giữ nhiều đồ khí tự khác của triều Nguyễn, các hiện vật này được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau, tạo nên sự rực rỡ và phong phú cho ngôi điện.

Hai bên phía trước điện Ngưng Hy có hai công trình kiến trúc giống nhau là Tả , Hữu Phối Điện, nơi để thờ các vị công thần. Tả Phối Điện được gọi là nhà Công Nghĩa, Hữu Phối Điện được gọi là viện Minh Ân, cả hai tên gọi này đều do vua Đồng Khánh đặt tên (Ân – Nghĩa ở đây muốn nói rằng nhớ tới công đức sinh thành của cha mẹ).

Lăng vua Đồng Khánh
Điện Ngưng Hy

Hậu điện

Phía sau điện Ngưng Hy là Hậu điện, nơi thờ các bà phi tần của vua Đồng Khánh, sau hậu điện có sân hẹp, hai bên sân là nhà Tả Hữu Tùng Viện, là hai ngôi nhà dành cho các cung phi sinh sống thờ phụng hương khói sau khi vua Đồng Khánh mất. Bên cạnh đó còn có Vĩnh Khánh Đường nguyên xưa là nơi thờ Phật, thờ Thánh trong khu vực tẩm điện, đây là một yếu tố tâm linh đặc biệt trong lăng của vua Đồng Khánh.

KHU VỰC MỘ

Khu vực này có đầy đủ các công trình giống như các lăng mộ các vua tiền triều. Qua khỏi Nghi Môn, hai bên sân Bái Đình là hai hàng tượng quan văn, quan võ và voi, ngựa phủ phục. Riêng các bức tượng ở đây được đắp bằng gạch và vôi vữa có dáng vẻ cao ráo, thanh mảnh hơn hẳn tượng đá ở các lăng khác. Tượng voi, ngựa được trang trí sắc sảo.

Lăng vua Đồng Khánh
Hàng tượng đá trong lăng vua Đồng Khánh

Chính giữa sân là nhà Bi Đình, xây theo kiểu hình tứ giác, mái đúc giả ngói ống, chính giữa thiết bầu rượu trên hoa sen đắp nổi, 4 góc mái trang trí 4 con rồng. Bốn mặt tường trổ cửa vòm đắp hoa lá và chữ “Thọ”. Bên trong đặt tấm bia đá Thanh có chiều cao 3m, rộng 1,45m, dày 0,6m. Khắc chữ cả hai mặt bia, nội dung bài văn bia “Thánh Đức Thần Công” do vua Khải Định viết ca ngợi công đức vua cha.

Lăng vua Đồng Khánh
Bi Đình

Phía sau nhà Bi Đình là Huyền Cung (nơi an táng thi hài vua), mộ vua có hình chữ nhật dài 4,2m và rộng 2,6m. Trên nóc chạm hình mặt trời, bốn góc mái chạm hình rồng và chữ “Thọ”. Bao quanh phần mộ nhà vua là ba vòng thành xây gạch trát vữa hình vuông cao 1,6m. Nền lát đá Thanh, mỗi vòng thành đều có trổ cửa, hai bên đắp trụ vuông hình tháp trang trí hoa sen.

Lăng vua Đồng Khánh
Mộ vua Đồng Khánh

Giá trị lịch sử lăng vua Đồng Khánh

Cùng với các khu lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn khác, lăng vua Đồng Khánh đã góp phần làm phong phú cho toàn bộ kiến trúc lăng tẩm cung đình Huế. Đây là một di tích điển hình cho nghệ thuật kiến trúc cổ Việt Nam nói chung cũng như Huế nói riêng vào cuối thế kỷ XIX. Lăng Đồng Khánh là một trong những yếu tố cấu thành một quần thể di tích rộng lớn của Cố đô Huế, làm cho di sản văn hóa Huế thêm đa dạng và độc đáo. Bởi vậy, việc từng bước trả lại những giá trị vốn có của nó là điều hết sức quan trọng. Chính vì lẽ đó, tháng 12 năm 2008 Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã tiến hành trùng tu tổng thể các hạng mục công trình kiến trúc của lăng Đồng Khánh.

Đến nay, Dự án trùng tu lăng Đồng Khánh giai đoạn I đã hoàn tất, diện mạo của tẩm điện được trả lại vẻ uy nghi như trước; Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đang chuẩn bị giai đoạn II bao gồm những khu lăng mộ hoàng gia lân cận lăng Đồng Khánh để tạo thành một chỉnh thể không gian cảnh quan di tích độc đáo để tiếp đón du khách tham quan.

Thông tin du lịch lăng vua Đồng Khánh (Tư Lăng)

Lăng vua Đồng Khánh nằm khá gần lăng vua Tự Đức. Vừa được trùng tu xong nên cũng đã đón nhận khách đến tham quan. Tuy nhiên, xét vế khía cạnh không gian, kiến trúc thì có phần hạn chế so với lăng Tự Đức, Minh Mạng, Khải Định. Nên du khách đến đây chủ yếu là khách du lịch tự do và các đoàn khách tìm hiểu lịch sử.

Hi vọng trong thời gian tới, sẽ có nhiều du khách đến đây tham quan hơn

Thông tin du lịch lăng vua Đồng Khánh

  • Giá vé: Người lớn: 100k; Trẻ em: Miễn vé
  • Giờ tham quan: + Mùa hè: từ 6h30 đến 17h30+ Mùa đông: từ 7h00 đến 17h00
  • Khoảng cách từ trung tâm thành phố: 9km
  • Phương tiện: Đường bộ

>>> Xem thêm: Tìm hiểu lịch sử các khu lăng mộ của các vua triều Nguyễn

Nguồn: THUYẾT MINH CÁC ĐIỂM THAM QUAN THỪA THIÊN HUẾ – SỞ DU LỊCH THỪA THIÊN HUẾ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *